Tuesday, June 14, 2016

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN 2016



Phần A. Đọc hiểu (3.0 điểm).
Văn bản 1:  Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4.

CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾC BÌNH NỨT
Chiếc bình nứt

        Hồi ấy có một người gánh nước, mang hai chiếc bình ở hai đầu một cái đòn gánh trên vai. Một trong hai bình ấy bị vết nứt, còn bình kia thì tuyệt hảo, luôn mang về đầy một bình nước. Cuối đoạn đường dài, từ con suối về nhà, chiếc bình nứt lúc nào cũng chỉ còn một nửa bình nước. Suốt hai năm tròn, ngày nào cũng vậy, người gánh nước chỉ mang về có một bình rưỡi nước.
       Dĩ nhiên, cái bình nguyên vẹn rất tự hào về thành tích của nó. Nó luôn hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà nó được tạo ra. Còn tội nghiệp chiếc bình nứt, nó xấu hổ về khuyết điểm của mình, nó khổ sở vì chỉ hoàn tất được một nửa công việc mà nó phải làm. Trong hai năm nó phải chịu đựng cái mà nó cho là thất bại chua cay.

        Một ngày nọ, chiếc bình nứt bèn lên tiếng với người gánh nước bên bờ suối: “Con thật là xấu hổ vì vết nứt bên hông làm rỉ mất nước suốt dọc đường đi về nhà bác”. Người gánh nước trả lời: “Con không để ý thấy chỉ có hoa mọc bên đường phía của con à?. Đó là vì ta luôn biết khuyếm khuyết của con nên đã gieo hạt hoa dọc đường bên phía của con và mỗi ngày đi về con đã tưới nước cho chúng…. Hai năm nay, ta vẫn hái được nhiều hoa đẹp để trên bàn. Nếu mà con không phải là con như thế này, thì trong nhà đâu thường xuyên có hoa đẹp để thưởng thức như vậy”.

      Chiếc bình nứt bừng tỉnh. Nó biết rằng từ hôm nay, mỗi ngày mới trên con đường này sẽ luôn mang đến cùng niềm vui, hạnh phúc. 
                                                                    (Trích : "Hạt giống tâm hồn")

Câu 1: Nội dung cơ bản của văn bản trên là gì? (0,25 điểm)
Câu 2: Biện pháp nghệ thuật chủ yếu được sử dụng trong văn bản trên? (0,25 điểm)
Câu 3: Nêu nhận xét của anh/ chị về cách ứng xử của người gánh nước với chiếc bình nứt. (0,5 điểm)
Câu 4: Viết một đoạn văn ngắn khoảng 10 câu trình bày suy nghĩ của anh/ chị về bài học mà anh/ chị rút ra được từ câu chuyện trên. (0,5 điểm)

Văn bản 2:  Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 8.

.".. Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng"
       (Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa - Theo Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2010)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên. (0,25 điểm) 
Câu 6. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng đầu của đoạn thơ trên. (0,5 điểm) 
Câu 7. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm) 
Câu 8. Anh/chị hãy nhận xét quan niệm khoảng 5-7 dòng của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: Mẹ ru cái lẽ ở đời – sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn trong khoảng 5-7 dòng. (0,25 điểm)

Phần B: Làm văn (7.0 điểm)
Câu 1. (3.0 điểm)



NIỀM TỰ HÀO CỦA SỐ 0

     "Nhờ rất nhiều số 0 đi theo mà số 1 trở thành khổng lồ.
Thành khổng lồ, những số 0 vinh dự và tự hào lắm, đi đâu cũng kể lể, vỗ ngực rằng: “Ta là khổng lồ”. 
                      (Theo Ngụ ngôn chọn lọc, NXB Thanh niên, 2003)

b. Viết bài văn ngắn khoảng 500 từ nêu suy nghĩ của anh/ chị về ý nghĩa gợi ra từ câu chuyện trên.

Câu 2. (4.0 điểm): Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp riêng của hai đoạn thơ sau: 

"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy 
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ 
Có nhớ dáng người trên độc mộc 
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"
             (Tây Tiến - Quang Dũng, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

Nhớ gì như nhớ người yêu 
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương 
Nhớ từng bản khói cùng sương 
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. 
                       (Việt Bắc - Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

----- Hết -----

Phần A. Đọc hiểu.
Văn bản 1
Câu 1: Nội dung cơ bản của văn bản trên nói về chuyện chiếc bình nứt nhưng nhằm mục đích nói về cách ứng xử của con người trong cuộc sống.
Câu 2: Biện pháp nghệ thuật chủ yếu được sử dụng trong văn bản trên là ẩn dụ cho những hạn chế, khiếm khuyết trong mỗi con người.
Câu 3: Cách ứng xử của người gánh nước vừa bao dung, nhân hậu vừa từng trải sâu sắc. Ông đã biến vết nứt của chiếc bình - vốn là một khiếm khuyết, hạn chế thành thứ hữu dụng.
Câu 4: Học sinh viết đoạn văn nêu lên suy nghĩ của mình về bài học rút ra từ câu chuyện:
- Thái độ coi thường của chiếc bình lành đối với chiếc bình nứt có đúng không? Thái độ ấy gợi liên tưởng đến cách ứng xử như thế nào đối với những người kém may mắn?
- Thái độ của chiếc bình nứt đối với chính bản thân mình có gì đúng và chưa đúng? Con người nên có cách ứng xử như thế nào khi đối diện với những hạn chế của bản thân?
- Cách ứng xử của người gánh nước với chiếc bình đó cho chúng ta bài học gì? (Vì dụ: cần cảm thông và nâng đỡ, tạo điều kiện cho những người kém may mắn tự tin vào bản thân, giúp họ biến những hạn chế, khiếm khuyết thành điểm mạnh…)
Về hình thức: Biết viết một đoạn văn có luận điểm, các luận cứ và lập luận chặt chẽ.

Văn bản 2
Câu 5. Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm/biểu cảm. 
Câu 6. Hai biện pháp tu từ: lặp cấu trúc (ở hai dòng thơ bao giờ cho tới…), nhân hóa (trong câu trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm). 
Câu 7. Nội dung chính của đoạn thơ: Đoạn thơ thể hiện hồi tưởng của tác giả về thời ấu thơ bên mẹ với những náo nức, khát khao và niềm vui bé nhỏ, giản dị; đồng thời, cho thấy công lao của mẹ, ý nghĩa lời ru của mẹ và nhắn nhủ thế hệ sau phải ghi nhớ công lao ấy. 
Câu 8. Nêu quan niệm của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: Lời ru của mẹ chứa đựng những điều hay lẽ phải, những kinh nghiệm, bài học về cách ứng xử, cách sống đẹp ở đời; sữa mẹ nuôi dưỡng thể xác, lời ru của mẹ nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta. Đó là ơn nghĩa, là tình cảm, là công lao to lớn của mẹ. 
Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. 
Từ đó, nhận xét về quan niệm của tác giả (đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp…). 
Câu trả lời phải hợp lí, có sức thuyết phục. 

Phần B: Làm văn (7.0 điểm)
Câu 1. (3.0 điểm). Đây là dạng câu hỏi nghị luận về một vấn đề xã hội trong một tác phẩm văn học.
- Tác phẩm mà câu hỏi trích dẫn là một câu chuyện ngụ ngôn rất ngắn gọn. HS có thể hiểu ý nghĩa của câu chuyện này theo nhiều cách khác nhau, dù hiểu theo cách nào cũng phải có cách lí giải hợp lí và thuyết phục. 
- Câu chuyện: Niềm tự hào của số 0 là câu chuyện nhỏ nhưng nêu lên vấn đề lớn: Trong cuộc sống mỗi người cần nhận thức đúng về giá trị của bản thân mình. Nếu không nhận thức đúng giá trị của mình, con người rất dễ trở nên ảo tưởng và ngông nghênh, kiêu ngạo một cách lố bịch.

- Đảm bảo các ý sau:
a. Phân tích, bàn luận về vai trò của số 0 và số 1
- Số 0 nếu đứng riêng một mình thì chẳng có ý nghĩa gì, cũng có thể nói là vô nghĩa. Nghĩa bóng chỉ con người và sự vật không có giá trị.
- Số không chỉ có ý nghĩa khi đứng sau số 1, như những cá nhân đứng trong tập thể, có người đứng đầu (lãnh đạo) tài năng (số một).
- Con số 0 trong câu chuyện không hiểu điều này nên tự coi mình là con số khổng lồ và đi dâu cũng “vinh dự”, “tự hào”, “vỗ ngực” khoe mình là khổng lồ.
-Từ sự diễn giải trên, HS cần rút ra ý nghĩa của câu chuyện: Con người cần nhận thức đúng giá trị của bản thân mình.

b. Suy nghĩ về ý nghĩa của câu chuyện
* Câu chuyện gợi cho ta nhiều suy nghĩ về lẽ sống và cách ứng xử ở đời.
- Lỗi của số 0 không phải vì nó là số 0 mà vì ý thức và thái độ của nó. Số 0 phạm sai lầm vì không ý thức được giá trị của bản thân. Cũng như vậy, trong cuộc sống mỗi con người có một hoàn cảnh khác nhau, có những giá trị khác nhau, dù ở vị trí nào, dù năng lực và tái năng đến đâu cũng không có lỗi nếu ý thức được đúng giá trị của mình. Con người chỉ mắc sai lầm khi không hiểu đúng, không nhận thức đúng về giá trị của bản thân và càng sai lầm hơn khi huênh hoang, kiêu ngạo, tự hào về những gì mình không có…

- Ngược lại, nếu ý thức được đúng về mình thì ngay cả bản thân số 0 rất có ý nghĩa. Cũng như vậy, con người bình thường nếu ý thức được về mình sẽ có cách sống, cách ứng xử giản dị, khiêm nhường và cũng sẽ góp phần tạo nên sự vĩ đại khi đứng trong một tập thể, như những giọt nước tạo nên biển cả mênh mông.

- Hs nêu dẫn chứng minh họa: trong cuộc cách mạng của dân tộc, trong tác phẩm văn học…
- Liên hệ, rút ra bài học cho bản thân về sự tự nhận thức và cách ứng xử trong cuộc sống.

Câu 2. (4.0 điểm)
* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm bài bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. 
* Yêu cầu cụ thể: 
a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm): 
- Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân. 
- Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn. 
- Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn. 

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm): 
- Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: vẻ đẹp riêng của hai đoạn thơ trích từ bài “Tây Tiến” - Quang Dũng và “Việt Bắc” - Tố Hữu. 
- Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung. 
- Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác. 

c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng (2,0 điểm): 
- Điểm 2,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau: + Giới thiệu về tác giả, tác phẩm; 

+ Phân tích vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của hai đoạn thơ: 
+ Đoạn thơ trong bài “Tây Tiến”: 

d Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bật được các ý cơ bản sau:
* Nội dung cơ bản của hai đoạn thơ:
- Đọc thơ trong bài Tây Tiến:
 + Khung cảnh thiên nhiên sông nước miền Tây thơ mộng, huyền ảo qua khung cảnh chiều sương hư ảo (chiều sương, hồn lau, bến bờ, hoa đong đưa, ... )
+ Con người miền Tây khỏe khoắn mà duyên dáng (dáng người trên độc mộc, trôi dòng nước lũ hoa đong đưa… ); ngòi bút tài hoa của Quang Dũng tả ít gợi nhiều, khắc họa được thần thái của cảnh vật và con người miền Tây. 
- Đoạn thơ trong bài “Việt Bắc”
+ Khung cảnh thiên nhiên Việt Bắc quen thuộc, bình dị, gần gũi mà thơ mộng, trữ tình (trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương...)
+  Cuộc sống và con người Việt Bắc gian khổ mà thủy chung, son sắt (nhớ gì như nhớ người yêu, sớm khuya bếp lửa người thương đi về, ...); mượn lời đáp của người về xuôi, nhà thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết đối với Việt Bắc, qua đó, dựng lên hình ảnh Việt Bắc trong kháng chiến anh hùng, tình nghĩa, thủy chung. 
* Chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ để thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi đoạn: 
- Sự tương đồng: 
+ Hai đoạn thơ tiêu biểu cho thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp, thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc, Tây Bắc và tình cảm gắn bó của tác giả đối với con người và miền đất xa xôi của Tổ quốc. 

-  Sự khác biệt: 
+ Thiên nhiên miền Tây trong thơ Quang Dũng hoang vu nhưng đậm màu sắc lãng mạn, hư ảo; con người miền Tây hiện lên trong vẻ đẹp khỏe khoắn mà duyên dáng; thể thơ thất ngôn mang âm hưởng vừa cổ điển vừa hiện đại. 
+ Thiên nhiên Việt Bắc trong thơ Tố Hữu gần gũi, quen thuộc mà trữ tình; con người Việt Bắc hiện lên trong tình nghĩa cách mạng thủy chung; thể thơ lục bát mang âm hưởng ca dao dân ca. 

* Lưu ý: Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. - Điểm 1,5 - 1,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (phân tích, so sánh) còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ. 

No comments:

Post a Comment