Showing posts with label Đề thi THPT quốc gia môn Văn. Show all posts
Showing posts with label Đề thi THPT quốc gia môn Văn. Show all posts

Tuesday, June 14, 2016

ĐỀ THI THỬ KỲ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2016


Môn thi: Ngữ văn
Thời gian làm bài: 180 phút
Đề 3

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
*Văn bản 1: Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 3:

Mẹ và quả
Mẹ và quả

MẸ VÀ QUẢ

Nguyễn Khoa Điềm
Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời khi như mặt trăng

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi

Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh
(Trích từ “Mẹ của nhà thơ”, NXB Phụ nữ, 2008)

Câu 1. Trong nhan đề và bài thơ, chữ “quả” xuất hiện nhiều lần. Chữ “quả” ở dòng nào mang nghĩa tả thực? Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa biểu tượng? (0.5 đ)
Câu 2. Nghĩa của từ “trông” trong dòng thơ “Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng” là gì? (0.25 đ)
Câu 3. Trong hai dòng thơ “Những mùa quả lặn rồi lại mọc – Như mặt trời khi như mặt trăng”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nào? Hãy nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó. (0.5 đ)

* Văn bản 2: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 4 đến câu 7:
      "Có một cậu bé nghèo bán hàng rong ở các khu nhà để kiếm tiền đi học. Hôm đó, cậu lục túi chỉ còn mấy đồng tiền ít ỏi mà bụng đang rất đói.
    Cậu quyết định xin một bữa ăn tại một căn nhà gần đó. Cậu hốt hoảng khi thấy một cô bé dễ thương ra mở cửa. Thay vì xin ăn, cậu ta đành xin một ly nước uống.
Cô bé nghĩ rằng cậu ta trông đang đói nên đem ra một ly sữa lớn.
Cậu uống từ từ, rồi hỏi: "Tôi nợ bạn bao nhiêu?"
Cô bé đáp: "Bạn không nợ tôi bao nhiêu cả. Mẹ dạy rằng chúng tôi không bao giờ nhận tiền khi làm một điều tốt."
Cậu ta nói: "Vậy thì tôi cảm ơn bạn nhiều lắm."
Khi Howard Kelly (*) rời căn nhà đó, cậu ta không những cảm thấy trong người khoẻ khoắn, mà còn thấy niềm tin vào con người, vào cuộc sống rất mạnh mẽ.
         Sau bao năm, cô gái đó bị ốm nghiêm trọng. Các bác sĩ trong vùng bó tay và chuyển cô lên bệnh viện trung tâm thành phố để các chuyên gia chữa trị căn bệnh hiểm nghèo này. Tiến sĩ Howard Kelly được mời làm chuyên gia. Khi nghe tên nơi ở của bệnh nhân, một tia sáng lạ loé lên trong mắt anh ta. Anh đứng bật dậy và đi đến phòng cô gái. Anh nhận ra cô gái ngay lập tức. Anh quay trở lại phòng chuyên gia và quyết tâm phải gắng hết sức để cứu được cô gái. Anh đã quan tâm đặc biệt. Sau thời gian đấu tranh lâu dài, căn bệnh của cô gái đã qua khỏi. Anh cầm tờ hoá đơn thanh toán viện phí, viết gì đó bên lề và cho chuyển lên phòng cô gái. 
           Cô gái lo sợ không dám mở tờ hoá đơn viện phí ra, bởi vì cô chắc chắn rằng đến suốt đời thì cô cũng khó mà thanh toán hết số tiền này.
          Cuối cùng cô can đảm nhìn, và chú ý đến dòng chữ bên cạnh tờ hoá đơn: "Đã thanh toán đủ bằng một ly sữa."
                    Ký tên: Tiến sĩ Howard Kelly.
         Mắt đẫm lệ, cô gái xúc động thốt lên: "Lạy chúa, tình yêu thương bao la của người đã lan rộng trong trái tim và bàn tay con người."

Chú thích: (*) Tiến sĩ Howard Kelly là một nhà vât lý lỗi lạc, đã sáng lập ra Khoa Ung thư tại trường Đại học John Hopkins năm 1895.

Câu 4. Đặt nhan đề cho văn bản. (0.5 đ)
Câu 5:  Văn bản sử dụng phương thức biểu đạt nào là chủ yếu? (0.25 đ)
Câu 6. Văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?(0.25 đ)
Câu 7. Câu chuyện trên mang đến bài học gì? (0.75 đ)

II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)Câu 1 (3,0 điểm): Anh/chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 từ) để bàn về bài học được rút ra từ câu chuyện một ly sữa trên

Câu 2 (4,0 điểm): Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:
Tây tiến


“Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh maug lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc đọc hành”
(Trích Tây tiến – Quang Dũng, Ngữ văn 12, tập 1)

               Từ sự hi sinh anh dũng của những chàng trai thời “Tây tiến” ấy, anh chị sẽ hành động như thế nào nếu tổ quốc cần?


ĐÁP ÁN:
I. Phần Đọc hiểu (3.0 điểm)

Câu 1
- Tả thực: Những mùa quả mẹ tôi hái được/ Những mùa quả lặn rồi lại mọc.
- Biểu tượng: Và chúng tôi, một thứ quả trên đời/ Mình vẫn còn là một thứ quả xanh

Câu 2
- Nghĩa của từ “trông”: trông chờ, niềm tin, hi vọng vào con cái…

Câu 3. 
- Trong hai dòng thơ “Những mùa quả lặn rồi lại mọc – Như mặt trời khi như mặt trăng”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ: so sánh.
- Tác dụng của biện pháp tu từ đó: gợi lên bước đi của thời gian, biểu lộ sự ngậm ngùi cho sự vất vả của người mẹ…

Câu 4 : Nhan đề: Một ly sữa/ Sẽ được gì khi ta biết cho đi…
Câu 5:  Văn bản sử dụng phương thức biểu đạt chủ yếu: tự sự
Câu 6:  Văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữ : nghệ thuật
Câu 7: Câu chuyện trên mang đến bài học: Khi biết cho đi một cách vô điều kiện, ta sẽ được nhận lại nhiều niềm vui hơn thế nữa…

II. Phần Làm văn (7.0 điểm)
Câu 1 (3.0 điểm)

1. Yêu cầu về kỹ năng: đảm bảo bố cục một bài văn nghị luận xã hội, hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hành văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt.
2. Yêu cầu về kiến thức: cần đảm bảo các nội dung sau
a. Mở bài: Nêu vấn đề ngắn gọn, rõ ràng, có cảm xúc…
b. Thân bài:
*. Ý nghĩa của câu chuyện

- Khi biết cho đi sự yêu thương chúng ta sẽ nhận lại được sự yêu thương (ý nghĩa của việc cho đi và nhận lại)
*. Suy nghĩ của bản thân về vấn đề trên.
* Bình luận:
Câu chuyện có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.
- Biết giúp đỡ người khác lúc khó khăn mà không đòi hỏi sự trả ơn là hành động đúng đắn, nhân văn...
+ Lí lẽ.
+ Dẫn chứng:
- Khi biết cho đi yêu thương ta sẽ nhận lại sự yêu thương từ người khác
* Thái độ với sự vô cảm (gieo gì gặt nấy): phê phán, lên án...
* Liên hệ bản thân:
nhận thức được điều gì, bài học rút ra cho bản thân và cho mọi người.
c. Kết bài:  Đánh giá ý nghĩa nhân văn của câu chuyện và suy nghĩ của bản thân.
Câu 2:
1. Yêu cầu về kỹ năng: đảm bảo bố cục một bài văn nghị luận văn học, có hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hành văn trong sáng, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt.
2. Yêu cầu về kiến thức: cần đảm bảo những kiến thức sau
a. Vài nét về tác giả Quang Dũng, bài thơ Tây tiến và vị trí đoạn trích.

- Quang Dũng là nghệ sĩ đa tài, thành công nhất về thơ ca, tiêu biểu cho thế hệ nhà thơ thời chống Pháp…
- Tây tiến viết về người lính thời chống Pháp tuy gian khổ những hào hùng, đậm chất lãng mạn…
- Đoạn thứ 3 khái quát chân dung người lính Tây tiến: gian khổ, hi sinh nhưng vẫn lãng mạn, hào hùng…có ảnh hưởng sâu sắc tới nhận thức và hành động của thế hệ trẻ.

b. Cảm nhận về đoạn thơ
* Hai câu đầu: trên nền thiên nhiên khắc nghiệt, thiếu thốn vật chất, hình ảnh người lính hiện lên thật bi tráng.
* Hai câu tiếp (mắt trừng gửi…dáng kiều thơm): Tâm hồn hào hoa, lãng mạn.
* Hai câu (Rải rác …chẳng tiếc đời xanh): Vẻ đẹp lí tưởng của thời đại “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.
* Hai câu cuối: Sự hi sinh bi tráng của người lính.
* Nghệ thuật: tương phản, đối lập; sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ kính; phép tu từ nhân hóa, ẩn dụ; ngôn ngữ sử thi…=> cảm hứng bi tráng.

c. Liên hệ bản thân: - Nhận thức MQH giữa cá nhân với dân tộc.
- Mỗi cá nhân luôn ý thức được trách nhiệm của bản thân (khi nào tổ quốc cũng cần sự chung tay góp sức)
+ thời bình: ra sức học tập, rèn luyện…cống hiến để dựng xây đất nước giàu mạnh…
+ nếu xảy ra biến cố: sẵn sàng hi sinh tất cả vì độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ…

d. Đánh giá chung
- Đọc đoạn thơ, ta vừa được bồi đắp thêm những nhận thức về sự hi sinh của thế hệ cha anh, vừa được thuyết phục về tình cảm để từ đó biết suy nghĩ nghiêm túc về trách nhiệm của mình đối với đất nước





ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN

(Đề 2)
Phần I: Đọc hiểu (3,0 điểm)



* VĂN BẢN 1: Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 3:
       "Một lần đi thăm một thầy giáo lớn tuổi, trong lúc tranh luận về quan điểm sống, một sinh viên đã nói:

- Sở dĩ có sự khác biệt là vì thế hệ các thầy sống trong những điều cũ là của một thế giới lạc hậu, ngày nay chúng em được tiếp xúc với những thành tựu khoa học tiên tiến hơn nhiều, thế hệ các thầy đâu có máy tính, không có internet, vệ tinh viễn thông và các thiết bị thông tin hiện đại như bây giờ...
       Người thầy giáo trả lời:
- Những phương tiện hiện đại giúp chúng ta nhưng không làm thay đổi chúng ta. Còn điều em nói là đúng. Thời trẻ, những người như chúng tôi không có những thứ em vừa kể nhưng chúng tôi đã phát minh ra chúng và đào tạo nên những con người kế thừa và áp dụng chúng.
       Cậu sinh viên chợt cúi đầu, im lặng.
                          
                      (Dẫn theo Hạt giống tâm hồn và Ý nghĩa cuộc sống, tập 5, NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh)


Câu 1. Đặt nhan đề cho văn bản trên. (0,5 điểm)
Câu 2. Theo cậu sinh viên, điều gì làm nên sự khác biệt về quan điểm sống giữa thế hệ của cậu và thế hệ của người thầy giáo lớn tuổi? (0,5 điểm)
Câu 3. Hãy nêu quan điểm sống và sự lí giải của anh/ chị sau khi đọc xong văn bản trên bằng một đoạn văn ngắn. (0,5 điểm)

* VĂN BẢN 2: Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ câu 4 đến câu 6:

Ôi bóng người xưa đã khuất rồi 
Tròn đôi nấm đất trắng chân đồi 
Sống trong cát, chết vùi trong cát 
Những trái tìm như ngọc sáng ngời

Đốt nén hương thơm, mát dạ Người 
Về đây vui chút  Mẹ Tơm ơi!
Nắng tươi xóm ngói, tường vôi mới 
Phấp phới buồm dong, nắng biển khơi 
(Mẹ Tơm - Tố Hữu)

Câu 4. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên? (0,25 điểm)
Câu 5. Anh (chị) hãy nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)
Câu 6. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu thơ “Sống trong cát, chết vùi trong cát/ Những trái tim như ngọc sáng ngời”.

Phần II: Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1. (3,0 điểm)
          Phải chăng lối sống thực dụng đang làm băng hoại đạo đức của con người, đặc biệt là giới trẻ hiện nay?
         Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề trên.


Câu 2. (4,0 điểm)
              Anh (chị) hãy phân tích làm nổi bật vẻ đẹp sử thi của hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành (Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục, 2008).

Phần I:  Đọc hiểu
* Văn bản 1:
Câu 1: Học sinh có thể đặt nhan đề cho câu chuyện một cách phong phú nhưng cần làm nổi bật lên sự đối lập trong quan điểm sống của hai thế hệ.
Có thể gợi ý một số nhan đề như sau: Đối thoại thế hệ; Trước kia và bây giờ;... 
Câu 2: Theo cậu sinh viên, điều làm nên sự khác biệt về quan điểm sống giữa hai thế hệ, thế hệ trẻ và thế hệ của người thầy giáo lớn tuổi là do thời đại, hoàn cảnh sống. 
Câu 3:  Qua câu chuyện trên, người thầy muốn cậu sinh viên hiểu rằng mặc dù thế hệ của ông không được sống trong thời đại có những thành tựu khoa học tiên tiến như máy tính, internet, vệ tinh viễn thông và các thiết bị thông tin hiện đại khác... nhưng ông và những người cùng thế hệ đã đặt viên gạch khởi đầu và đào tạo nên những con người kế thừa và áp dụng những thành tựu đó. Thời đại mà người thầy giáo sống có thể là thời của những điều cũ kĩ, lạc hậu nhưng chính họ đã kiến tạo nên thế giới văn minh mà cậu sinh viên đang sống.
        - Học sinh bày tỏ sự đồng tình hoặc phản đối quan niệm trên của người thầy giáo và giải thích cho câu trả lời của mình. Nội dung lí giải phải hợp lí, có sức thuyết phục. 

* Văn bản 2:
Câu 4:  Hai khổ thơ có phương thức diễn đạt biểu cảm. 
Câu 5:  Đoạn thơ được viết bằng niềm xúc động chân thành thể hiện lòng biết ơn người mẹ đã nuôi giấu nhà thơ trong những ngày kháng chiến gian khổ. Từ cảm xúc cụ thể, đoạn thơ vươn lên tinh thần triết lí, đề cao đạo lí ân nghĩa “Uống nước nhớ nguồn “ của dân tộc. 
Câu 6:  Suy nghĩ về nỗi đau thương, mất mát của con người, nhà thơ dẫn dắt người đọc về lẽ sống, triết lí ở đời: “Sống trong cát... sáng ngời”. Con người sinh ra từ cát bụi, khi trở về giã từ cuộc sống cũng hòa cùng cát bụi, trọn vẹn một vòng sinh tử, một kiếp nhân sinh. Dẫu cuộc đời những con người như mẹ Tơm chịu muôn vàn cơ cực, gian lao, thử thách nhưng vẻ đẹp của ý chí, tâm hồn họ luôn tỏa sáng. Câu thơ mang ấn tuợng đẹp đẽ, giàu ý nghĩa biểu tượng kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật hoán dụ qua từ “Trái tim” và biện pháp nghệ thuật so sánh “trái tim như ngọc sáng ngời”. Ở đây, hình ảnh “trái tim” là để thay thế cho con người, đề cao sức sống tinh thần bất diệt, còn sự so sánh trái tim như viên ngọc quý đã ngợi ca sự thánh thiện, tỏa sáng bền lâu, vĩnh hằng. Nhà thơ đã khẳng định thật xúc động rằng: dù những người như mẹ Tơm có ra đi nhưng tâm hồn họ luôn bất tử, trở thành biểu tượng cho lý tưởng yêu nước và đức hy sinh cao cả của con người Việt Nam trong chiến tranh. 

Phân II : Làm văn: 
1 Mở bài 
- Lối sống thực dụng đang là vấn đề đáng báo động, lên án. Nó không chỉ xuất hiện ở một bộ phận không nhỏ giới trẻ mà còn trở thành một vấn đề tiêu cực của nhiều đối tượng người trong xã hội hiện đại. 

2 Thân bài: 
a Thế nào là lối sống thực dụng? 
- Lối sống thực dụng là lối sống coi nặng giá trị vật chất, chạy đua theo những nhu cầu trước mắt, đặt lợi ích của bản thân lên trên tất cả, gần với sự ích kỉ, trục lợi. Lối sống thực dụng là một căn bệnh nguy hiểm có thể làm băng hoại đạo đức con người. 

b Phân tích vấn đề: 
- Biểu hiện của lối sống thực dụng: sống buông thả, thờ ơ, hành xử thô bạo, vi phạm pháp luật nhà nước, coi trọng tiền bạc, xem nhẹ những giá trị đạo đức, nhân cách, tâm hồn. Ví dụ: hiện tượng chọn nghề theo thị hiếu xã hội mà không theo sở thích, khả năng của bản thân; bạo lực trong học đường, sống thử và quan hệ tình dục trước hôn nhân; bỏ bê học hành chơi game, đua xe, đua đòi hưởng thụ, hưởng lạc quá mức,...

- Nguyên nhân của lối sống thực dụng: do ý thức của bản thân; do môi trường giáo dục còn chưa chú trọng đến đạo đức, nhân cách, kĩ năng sống; do gia đình thiếu sát sao, quan tâm; do xã hội chưa tổ chức được những hoạt động hữu ích thu hút giới trẻ,...

- Tác hại của lối sống thực dụng: Lối sống thực dụng sẽ làm tha hóa con người, khơi dậy những ham muốn bản năng, cơ hội, chạy theo hưởng lạc, những lợi ích trực tiếp trước mắt, xa rời những mục tiêu phấn đấu. Trong quan hệ giữa người với người, những tình cảm lành mạnh bị thay thế bằng quan hệ vụ lợi, vật chất. Trong đời sống, họ vô trách nhiệm, bàng quan, vô cảm, không đấu tranh chống cái sai và cũng không ủng hộ cái đúng, cái tốt.

- Làm thế nào loại trừ được lối sống thực dụng? Sống phải có khát vọng, lí tưởng, có hoài bão, mục đích sống, động lực để phấn đấu. Nhất là tuổi trẻ phải biết biến ước mơ thành hành động cụ thể, năng động, dám nghĩ, dám làm, không uổng phí thời gian, loại bỏ lối sống ích kỉ, vượt qua cám dỗ đời thường. Gia đình, nhà trường và xã hội cần quan tâm hơn tới giáo dục tạo động lực phấn đấu và thu hút, trọng dụng giới trẻ vào những việc làm có ích. 

c Bài học nhận thức và hành động: 
- Cần đấu tranh với bản thân loại trừ lối sống thực dụng.
- Có những hành động tích cực, chủ động để nắm bắt cơ hội, hướng tới tương lai của chính mình. Hội nhập với cuộc sống hiện đại nhưng không đánh mất những giá trị truyền thống tốt đẹp. 

3 Kết bài: 
- Khẳng định: Lối sống thực dụng cần lên án như một căn bệnh nguy hiểm của đời sống xã hội. 


Rừng xà nu
Rừng Xà Nu


1.  Vài nét về tác giả, tác phẩm: 
- Nguyễn Trung Thành vốn là một chiến sĩ, một phóng viên. Đề tài sáng tác của ông: mảnh đất Tây Nguyên hoang dại, bí ẩn, cuộc sống chiến đấu anh dũng của nhân dân nơi đây. Phong cách nghệ thuật: đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn.
- Tác phẩm: hoàn thành vào mùa hè năm 1965, đăng trên tạp chí Văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ, sau này được đưa vào tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”. Cảm hứng chủ đạo của tác phẩm: có áp bức có đấu tranh, chỉ có bạo lực cách mạng mới là con đường sống duy nhất cho nhân dân miền Nam Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ. 

2. Vẻ đẹp sử thi của hình tượng Tnú: 
a Vẻ đẹp sử thi của nhân vật văn học nói chung: 
- Nhân vật sử thi là mẫu nhân vật anh hùng mang lí tưởng của thời đại, số phận gắn với những sự kiện lớn của cộng đồng, kết tinh những phẩm chất tiêu biểu nhất của cộng đồng và lập nên những chiến công hiển hách.
- Nhân vật sử thi thường được khắc họa trong những bối cảnh không gian kì vĩ, cách trần thuật trang trọng; giọng điệu thiết tha, hùng tráng. 

b. Vẻ đẹp sử thi của hình tượng nhân vật Tnú: 
b.1. Nội dung hình tượng: 
* Nhân vật mang tầm vóc của người anh hùng, rất điển hình cho tính cách, sức mạnh và lí tưởng của nhân dân Tây Nguyên.
- Tnú có một khí phách phi thường, một tinh thần chiến đấu quả cảm vô song:
+ Ngay từ khi còn nhỏ, lúc Tnú và Mai làm giao liên dẫn đường cho cán bộ, hai người được anh Quyết dạy cho cái chữ, học chữ thua Mai nhưng Tnú thể hiện một quyết tâm mạnh mẽ để đưa được chữ vào đầu.
+ Khi Tnú đối diện vớỉ kẻ thù, bị chúng khủng bố tỉnh thần, chúng chĩa súng và quát hỏi anh: “Cộng sản ở đâu?”, anh đã chỉ tay vào bụng trả lời khẳng khái: “Cộng sản ở đây”, mặc dù sau câu nói ấy lưng Tnú dọc ngang vết dao chém của giặc.
+ Đi đường núi làm giao liên Tnú rất dũng cảm, Tnú tránh đi đường mòn, qua sông cũng không thích lội chỗ nước êm mà thường lựa chọn dòng nước xiết, có lần đi qua một thác sông bị kẻ thù phục kích Tnú nhanh chóng nuốt luôn cái thư anh Quyết gửi.
+ Hình ảnh đôi bàn tay Tnú gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Đôi bàn tay ấy trước đây lành lặn đã từng cầm phấn học cái chữ anh Quyết dạy, từng lấy đá ghè vào đầu như để tự trừng phạt mình, là bàn tay nghĩa tình rưng rưng nắm lấy tay Mai, nhưng dữ dội nhất là khi đôi bàn tay bị giặc đốt, mười đầu ngón tay là mười ngọn đuốc bùng lên lửa căm thù.
- Tnú trung thành tuyệt đối và có niềm tin sắt đá vào chân lí cách mạng: Khi Tnú bị kẻ thù thiêu đốt ngón tay, ngọn lửa dữ dội như cào xé gan ruột và cả hệ thần kinh của anh: “Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi, răng anh cắn nát môi anh rồi”. Trong bi kịch ấy Tnú không hề kêu van nửa lời vì anh luôn tâm niệm lời dạy của anh Quyết: “Người cộng sản không thèm kêu van “. Lòng trung thành vói cách mạng của Tnú còn hòa cùng niềm tin lớn lao như trong lời cụ Mết: “Đảng còn, núi nước này còn’”.

- Tnú có một tình yêu lớn lao, sâu sắc với gia đình, quê hương xứ sở và một lòng căm thù giặc mãnh liệt:
+ Thuở thiếu thời, Tnú là người bạn nghĩa tình của Mai, lớn lên là người yêu chung thủy của Mai, sau này là người chồng, người cha đầy trách nhiệm với gia đình. Khi chứng kiến giặc tàn sát Mai và đứa con nhỏ, mặc dù tay không tấc sắt, Tnú vẫn xông vào chống trả. Vậy sức mạnh nào đã thôi thúc Tnú để anh bất chấp cả hiểm nguy, lao vào kẻ thù như một con hổ xám? Động lực ghê gớm ấy xuất phát từ tình yêu thương vợ con tha thiết.
+ Tnú còn rất nghĩa tình với buôn làng Xô Man, anh yêu mảnh đất quê hương, yêu những cánh rừng xà nu, con đường, dòng suối; vì quê hương mà anh lên đường chiến đấu.
+ Lòng căm thù ở Tnú cũng dữ dội và quyết liệt. Trong anh tích tụ ba mối thù lớn: mối thù của bản thân, của gia đình, và của cả buôn làng Xô Man. Lưng Tnú dọc ngang vết dao chém, mười ngón tay bị đốt, đó là chứng tích tội ác kẻ thù mà anh phải mang thẹo suốt đòi; vợ con anh chết thảm khốc dưới trận mưa gậy sắt; còn dân làng Xô Man bị kẻ thù tàn sát, chúng treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng, chặt đầu bà Nhan treo đầu mũi súng để răn đe. Vì thế, dù chỉ còn đôi bàn tay thương phế nhưng Tnú vẫn đi truy lùng giặc để trả thù, kết thúc thiên truyện, anh đã dùng bàn tay quả báo bóp chết thằng chỉ huy đang cố thủ trong đền trú ẩn.

* Nhân vật có số phận gắn bó với những biến cố lớn của làng Xô Man, phản ánh cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Tây Nguyên chống Mĩ ngụy, làm sáng tỏ chân lí thời đại: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.
- Khi còn nhỏ, Tnú là đứa trẻ mồ côi được buôn làng cưu mang đùm bọc và trở thành người con ưu tú của làng Xô Man.
- Khi kẻ thù giày xéo quê hương, Tnú phải chịu nhiều đau thương mất mát, tiêu biểu cho nỗi đau thương mất mát lớn của dân tộc. Ở Tnú cỏ thừa sức mạnh cá nhân: một thể chất khỏe khoắn; tinh thần, ý chí quyết liệt; sự gan góc, dũng cảm; kẻ thù tàn bạo không thể khuất phục nổi anh. Dù chúng tra tấn bằng lưỡi dao, mũi súng, dây trói, ngọn lửa nhưng Tnú tay không lao vào cứu mẹ con Mai thì anh vẫn thất bại. Mai và đứa con ngã xuống, bản thân Tnú bị lửa thiêu đốt bàn tay.
- Khi được giác ngộ cách mạng và vùng lên quật khởi, quá trình trưởng thành của Tnú cũng rất điển hình cho con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên. Người dân Xô Man đã cầm vũ khí đứng lên sau bao ngày vào rừng dưới ánh lửa xà nu, họ rèn giáo mác, mài dao, mài rựa chuẩn bị vũ khí chờ ngày đồng khởi. Họ ào ạt xông lên, dẫn đầu là cụ Mết, chém gục thằng Đục, giết cả tiểu đội ác ôn, cứu Tnú, giải phỏng quê hương. Quá trình đấu tranh của Tnú đi từ tự phát đến tự giác, tham gia lực lượng vũ trang đánh Mĩ cũng là con dưòng đúng đắn của nhân dân Tây Nguyên. 

b.2. Nghệ thuật khắc họa hình tượng: 
- Không khí truyện được dựng như các cuộc kể khan truyền thống của các già làng thuở trước; lối viết truyện ngắn hiện đại pha trộn nhiều yếu tố sử thi dân gian khiến một nhân vật của thời đại chống Mĩ, lại phảng phất hình bóng những anh hùng sử thi cổ đại.
- Bút pháp nghệ thuật có sự kết hợp giữa tả thực và biểu tượng: nhân vật Tnú gắn liền với một biểu tượng về sức sống bất diệt của người Tây Nguyên đó là cây xà nu; hình ảnh đôi bàn tay Tnú được miêu tả như một biểu tượng độc đáo cho cuộc đời và số phận của nhân vật; giọng điệu trang trọng, hào hùng; ngôn ngữ đầy chất tạo hình và chất thơ.
- Không khí truyện được dựng như các cuộc kể khan truyền thống của các già làng thuở trước; lối viết truyện ngắn hiện đại pha trộn nhiều yếu tố sử thi dân gian khiến một nhân vật của thời đại chống Mĩ, lại phảng phất hình bóng những anh hùng sử thỉ cổ đại.
- Bút pháp nghệ thuật có sự kết hợp giữa tả thực và biểu tượng: nhân vật Tnú gắn liền với một biểu tượng về sức sống bất diệt của người Tây Nguyên đó là cây xà nu; hình ảnh đôi bàn tay Tnú được miêu tả như một biểu tượng độc đáo cho cuộc đời và số phận của nhân vật; giọng điệu trang trọng, hào hùng; ngôn ngữ đầy chất tạo hình và chất thơ. 

3 Đánh giá: 
- Hình tượng nhân vật Tnú mang tính chất sử thi, tiêu biểu cho cả Tây Nguyên bất khuất. Nếu như cụ Mết có khí thế hùng dũng, hành động quyết liệt như thác lũ thì Tnú lại khỏe khoắn, vững chãi như một cây xà nu trưởng thành trên đất Tây Nguyên. Đó là vẻ đẹp của người anh hùng được nối tiếp từ những áng sử thi như Đăm San, Xinh Nhã,... 

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN 2016



Phần A. Đọc hiểu (3.0 điểm).
Văn bản 1:  Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4.

CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾC BÌNH NỨT
Chiếc bình nứt

        Hồi ấy có một người gánh nước, mang hai chiếc bình ở hai đầu một cái đòn gánh trên vai. Một trong hai bình ấy bị vết nứt, còn bình kia thì tuyệt hảo, luôn mang về đầy một bình nước. Cuối đoạn đường dài, từ con suối về nhà, chiếc bình nứt lúc nào cũng chỉ còn một nửa bình nước. Suốt hai năm tròn, ngày nào cũng vậy, người gánh nước chỉ mang về có một bình rưỡi nước.
       Dĩ nhiên, cái bình nguyên vẹn rất tự hào về thành tích của nó. Nó luôn hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà nó được tạo ra. Còn tội nghiệp chiếc bình nứt, nó xấu hổ về khuyết điểm của mình, nó khổ sở vì chỉ hoàn tất được một nửa công việc mà nó phải làm. Trong hai năm nó phải chịu đựng cái mà nó cho là thất bại chua cay.

        Một ngày nọ, chiếc bình nứt bèn lên tiếng với người gánh nước bên bờ suối: “Con thật là xấu hổ vì vết nứt bên hông làm rỉ mất nước suốt dọc đường đi về nhà bác”. Người gánh nước trả lời: “Con không để ý thấy chỉ có hoa mọc bên đường phía của con à?. Đó là vì ta luôn biết khuyếm khuyết của con nên đã gieo hạt hoa dọc đường bên phía của con và mỗi ngày đi về con đã tưới nước cho chúng…. Hai năm nay, ta vẫn hái được nhiều hoa đẹp để trên bàn. Nếu mà con không phải là con như thế này, thì trong nhà đâu thường xuyên có hoa đẹp để thưởng thức như vậy”.

      Chiếc bình nứt bừng tỉnh. Nó biết rằng từ hôm nay, mỗi ngày mới trên con đường này sẽ luôn mang đến cùng niềm vui, hạnh phúc. 
                                                                    (Trích : "Hạt giống tâm hồn")

Câu 1: Nội dung cơ bản của văn bản trên là gì? (0,25 điểm)
Câu 2: Biện pháp nghệ thuật chủ yếu được sử dụng trong văn bản trên? (0,25 điểm)
Câu 3: Nêu nhận xét của anh/ chị về cách ứng xử của người gánh nước với chiếc bình nứt. (0,5 điểm)
Câu 4: Viết một đoạn văn ngắn khoảng 10 câu trình bày suy nghĩ của anh/ chị về bài học mà anh/ chị rút ra được từ câu chuyện trên. (0,5 điểm)

Văn bản 2:  Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 8.

.".. Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng"
       (Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa - Theo Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2010)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên. (0,25 điểm) 
Câu 6. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng đầu của đoạn thơ trên. (0,5 điểm) 
Câu 7. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm) 
Câu 8. Anh/chị hãy nhận xét quan niệm khoảng 5-7 dòng của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: Mẹ ru cái lẽ ở đời – sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn trong khoảng 5-7 dòng. (0,25 điểm)

Phần B: Làm văn (7.0 điểm)
Câu 1. (3.0 điểm)



NIỀM TỰ HÀO CỦA SỐ 0

     "Nhờ rất nhiều số 0 đi theo mà số 1 trở thành khổng lồ.
Thành khổng lồ, những số 0 vinh dự và tự hào lắm, đi đâu cũng kể lể, vỗ ngực rằng: “Ta là khổng lồ”. 
                      (Theo Ngụ ngôn chọn lọc, NXB Thanh niên, 2003)

b. Viết bài văn ngắn khoảng 500 từ nêu suy nghĩ của anh/ chị về ý nghĩa gợi ra từ câu chuyện trên.

Câu 2. (4.0 điểm): Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp riêng của hai đoạn thơ sau: 

"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy 
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ 
Có nhớ dáng người trên độc mộc 
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"
             (Tây Tiến - Quang Dũng, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

Nhớ gì như nhớ người yêu 
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương 
Nhớ từng bản khói cùng sương 
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. 
                       (Việt Bắc - Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

----- Hết -----

Phần A. Đọc hiểu.
Văn bản 1
Câu 1: Nội dung cơ bản của văn bản trên nói về chuyện chiếc bình nứt nhưng nhằm mục đích nói về cách ứng xử của con người trong cuộc sống.
Câu 2: Biện pháp nghệ thuật chủ yếu được sử dụng trong văn bản trên là ẩn dụ cho những hạn chế, khiếm khuyết trong mỗi con người.
Câu 3: Cách ứng xử của người gánh nước vừa bao dung, nhân hậu vừa từng trải sâu sắc. Ông đã biến vết nứt của chiếc bình - vốn là một khiếm khuyết, hạn chế thành thứ hữu dụng.
Câu 4: Học sinh viết đoạn văn nêu lên suy nghĩ của mình về bài học rút ra từ câu chuyện:
- Thái độ coi thường của chiếc bình lành đối với chiếc bình nứt có đúng không? Thái độ ấy gợi liên tưởng đến cách ứng xử như thế nào đối với những người kém may mắn?
- Thái độ của chiếc bình nứt đối với chính bản thân mình có gì đúng và chưa đúng? Con người nên có cách ứng xử như thế nào khi đối diện với những hạn chế của bản thân?
- Cách ứng xử của người gánh nước với chiếc bình đó cho chúng ta bài học gì? (Vì dụ: cần cảm thông và nâng đỡ, tạo điều kiện cho những người kém may mắn tự tin vào bản thân, giúp họ biến những hạn chế, khiếm khuyết thành điểm mạnh…)
Về hình thức: Biết viết một đoạn văn có luận điểm, các luận cứ và lập luận chặt chẽ.

Văn bản 2
Câu 5. Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm/biểu cảm. 
Câu 6. Hai biện pháp tu từ: lặp cấu trúc (ở hai dòng thơ bao giờ cho tới…), nhân hóa (trong câu trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm). 
Câu 7. Nội dung chính của đoạn thơ: Đoạn thơ thể hiện hồi tưởng của tác giả về thời ấu thơ bên mẹ với những náo nức, khát khao và niềm vui bé nhỏ, giản dị; đồng thời, cho thấy công lao của mẹ, ý nghĩa lời ru của mẹ và nhắn nhủ thế hệ sau phải ghi nhớ công lao ấy. 
Câu 8. Nêu quan niệm của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: Lời ru của mẹ chứa đựng những điều hay lẽ phải, những kinh nghiệm, bài học về cách ứng xử, cách sống đẹp ở đời; sữa mẹ nuôi dưỡng thể xác, lời ru của mẹ nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta. Đó là ơn nghĩa, là tình cảm, là công lao to lớn của mẹ. 
Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. 
Từ đó, nhận xét về quan niệm của tác giả (đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp…). 
Câu trả lời phải hợp lí, có sức thuyết phục. 

Phần B: Làm văn (7.0 điểm)
Câu 1. (3.0 điểm). Đây là dạng câu hỏi nghị luận về một vấn đề xã hội trong một tác phẩm văn học.
- Tác phẩm mà câu hỏi trích dẫn là một câu chuyện ngụ ngôn rất ngắn gọn. HS có thể hiểu ý nghĩa của câu chuyện này theo nhiều cách khác nhau, dù hiểu theo cách nào cũng phải có cách lí giải hợp lí và thuyết phục. 
- Câu chuyện: Niềm tự hào của số 0 là câu chuyện nhỏ nhưng nêu lên vấn đề lớn: Trong cuộc sống mỗi người cần nhận thức đúng về giá trị của bản thân mình. Nếu không nhận thức đúng giá trị của mình, con người rất dễ trở nên ảo tưởng và ngông nghênh, kiêu ngạo một cách lố bịch.

- Đảm bảo các ý sau:
a. Phân tích, bàn luận về vai trò của số 0 và số 1
- Số 0 nếu đứng riêng một mình thì chẳng có ý nghĩa gì, cũng có thể nói là vô nghĩa. Nghĩa bóng chỉ con người và sự vật không có giá trị.
- Số không chỉ có ý nghĩa khi đứng sau số 1, như những cá nhân đứng trong tập thể, có người đứng đầu (lãnh đạo) tài năng (số một).
- Con số 0 trong câu chuyện không hiểu điều này nên tự coi mình là con số khổng lồ và đi dâu cũng “vinh dự”, “tự hào”, “vỗ ngực” khoe mình là khổng lồ.
-Từ sự diễn giải trên, HS cần rút ra ý nghĩa của câu chuyện: Con người cần nhận thức đúng giá trị của bản thân mình.

b. Suy nghĩ về ý nghĩa của câu chuyện
* Câu chuyện gợi cho ta nhiều suy nghĩ về lẽ sống và cách ứng xử ở đời.
- Lỗi của số 0 không phải vì nó là số 0 mà vì ý thức và thái độ của nó. Số 0 phạm sai lầm vì không ý thức được giá trị của bản thân. Cũng như vậy, trong cuộc sống mỗi con người có một hoàn cảnh khác nhau, có những giá trị khác nhau, dù ở vị trí nào, dù năng lực và tái năng đến đâu cũng không có lỗi nếu ý thức được đúng giá trị của mình. Con người chỉ mắc sai lầm khi không hiểu đúng, không nhận thức đúng về giá trị của bản thân và càng sai lầm hơn khi huênh hoang, kiêu ngạo, tự hào về những gì mình không có…

- Ngược lại, nếu ý thức được đúng về mình thì ngay cả bản thân số 0 rất có ý nghĩa. Cũng như vậy, con người bình thường nếu ý thức được về mình sẽ có cách sống, cách ứng xử giản dị, khiêm nhường và cũng sẽ góp phần tạo nên sự vĩ đại khi đứng trong một tập thể, như những giọt nước tạo nên biển cả mênh mông.

- Hs nêu dẫn chứng minh họa: trong cuộc cách mạng của dân tộc, trong tác phẩm văn học…
- Liên hệ, rút ra bài học cho bản thân về sự tự nhận thức và cách ứng xử trong cuộc sống.

Câu 2. (4.0 điểm)
* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm bài bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. 
* Yêu cầu cụ thể: 
a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm): 
- Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân. 
- Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn. 
- Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn. 

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm): 
- Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: vẻ đẹp riêng của hai đoạn thơ trích từ bài “Tây Tiến” - Quang Dũng và “Việt Bắc” - Tố Hữu. 
- Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung. 
- Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác. 

c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng (2,0 điểm): 
- Điểm 2,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau: + Giới thiệu về tác giả, tác phẩm; 

+ Phân tích vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của hai đoạn thơ: 
+ Đoạn thơ trong bài “Tây Tiến”: 

d Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bật được các ý cơ bản sau:
* Nội dung cơ bản của hai đoạn thơ:
- Đọc thơ trong bài Tây Tiến:
 + Khung cảnh thiên nhiên sông nước miền Tây thơ mộng, huyền ảo qua khung cảnh chiều sương hư ảo (chiều sương, hồn lau, bến bờ, hoa đong đưa, ... )
+ Con người miền Tây khỏe khoắn mà duyên dáng (dáng người trên độc mộc, trôi dòng nước lũ hoa đong đưa… ); ngòi bút tài hoa của Quang Dũng tả ít gợi nhiều, khắc họa được thần thái của cảnh vật và con người miền Tây. 
- Đoạn thơ trong bài “Việt Bắc”
+ Khung cảnh thiên nhiên Việt Bắc quen thuộc, bình dị, gần gũi mà thơ mộng, trữ tình (trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương...)
+  Cuộc sống và con người Việt Bắc gian khổ mà thủy chung, son sắt (nhớ gì như nhớ người yêu, sớm khuya bếp lửa người thương đi về, ...); mượn lời đáp của người về xuôi, nhà thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết đối với Việt Bắc, qua đó, dựng lên hình ảnh Việt Bắc trong kháng chiến anh hùng, tình nghĩa, thủy chung. 
* Chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ để thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi đoạn: 
- Sự tương đồng: 
+ Hai đoạn thơ tiêu biểu cho thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp, thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc, Tây Bắc và tình cảm gắn bó của tác giả đối với con người và miền đất xa xôi của Tổ quốc. 

-  Sự khác biệt: 
+ Thiên nhiên miền Tây trong thơ Quang Dũng hoang vu nhưng đậm màu sắc lãng mạn, hư ảo; con người miền Tây hiện lên trong vẻ đẹp khỏe khoắn mà duyên dáng; thể thơ thất ngôn mang âm hưởng vừa cổ điển vừa hiện đại. 
+ Thiên nhiên Việt Bắc trong thơ Tố Hữu gần gũi, quen thuộc mà trữ tình; con người Việt Bắc hiện lên trong tình nghĩa cách mạng thủy chung; thể thơ lục bát mang âm hưởng ca dao dân ca. 

* Lưu ý: Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. - Điểm 1,5 - 1,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (phân tích, so sánh) còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ.